Xác định cấp độ tu tập của mình đang ở đâu


Chúng ta cần xác định căn cơ, cấp độ tu tập của mình đang ở đâu

Trước khi nói về mối liên hệ giữa Thượng Sư và đệ tử, bạn cần phải biết thực ra chúng ta thuộc về thừa nào, hay nói cách khác, chúng ta cần xác định căn cơ, cấp độ tu tập của mình đang ở đâu. Thí dụ khi động cơ tu tập, thực hành pháp của chúng ta chỉ mong cầu hạnh phúc trong đời này hay đời sau, thì cơ bản chúng ta không cần tới Thượng Sư. Tất nhiên bạn có thể có Thượng Sư cũng không sao, nhưng điều quan trọng nhất để đạt được mong nguyện là tôn trọng và thuận theo luật nhân quả, vậy cũng đủ. Tránh xa nghiệp ác, làm nhiều việc thiện, bạn sẽ được tái sinh giàu có, cao sang hoặc sinh vào cõi Thiên. Lẽ đương nhiên khi mãn phần phúc báo, bạn sẽ lại trôi lăn trong luân hồi. Như vậy, chúng ta sẽ cần tới một bậc Thầy có thể dạy chúng ta kỹ lưỡng về Nhân quả. Như vậy, bạn cũng vẫn là một Phật tử thông thường, bạn có nhận thức đúng đắn, trong Phật Giáo chúng ta gọi là có chính kiến. Bạn chưa hẳn theo một Thừa nào mà chỉ đơn thuần là một Phật tử có chính kiến.

Sau đó, bạn bắt đầu thực sự muốn thực hành Pháp. Trước hết bạn cần hiểu mục đích chính của cả Tam Thừa đều là sự rèn luyện tâm, thông qua các phương tiện khác nhau, các cách tiếp cận khác nhau, song tựu chung đều nhằm điều phục tâm. Chẳng hạn đối với  Nguyên Thủy Phật giáo, đối với tâm, quan trọng nhất là xả ly, về thực hành, quan trọng nhất là trì giới. Hai điều này vô cùng quan trọng đối với các hành giả Nguyên Thủy Phật giáo. Khi nói tới giới luật trong pháp thực hành Phật giáo Nguyên thùy, tức là nói tới sự trì giới tinh nghiêm của thân và khẩu. Thí du, một bậc tu sỹ trong Phật giáo Nguyên thủy trì giới rất tinh nghiêm từ cách đi lại, cách nói chuyện. Giới của bậc Tỳ kheo không được nhìn sắc nữ, không được sờ vào vàng hoặc nắm giữ tiền bạc, không được đi giày dép, các Ngài luôn đi chân đất và phải khất thực. Trong các tự viện không được phép có bếp nấu ăn. Khi đi khất thực, các Ngài chỉ được phép tới 3 ngôi nhà, nếu không được cúng dường thức ăn các Ngài cũng phải chịu đói bụng quay về.

Tóm lại công hạnh của các Ngài là trì giữ giới luật: không sờ vào vàng, luôn đi chân đất, luôn khất thực, cạo đầu… Khi trì giữ tinh nghiêm trọn vẹn giới luật đối với thân và khẩu, tự nhiên tâm sẽ được điều phục, kiểm soát. Sao có thể không hạnh phúc khi được đi khắp nơi với đôi chân trần, chỉ dùng thực phẩm cúng dường? Sao có thể bám chấp khi chỉ được có 2 bộ y? Bởi lẽ bạn sẽ chẳng có gì phải lo lắng. “Quần áo mình trông xấu xí, mình cần có nhiều tiền để mua quần áo, mình cần đồng hồ xịn, làm thế nào để có được bây giờ?” Không có bếp để nấu ăn, bạn sẽ chẳng phải lo lắng về thức ăn ngon dở. Nếu có người cúng dường đồ ăn ngon, cũng tốt, nhưng bạn sẽ không quá vui mừng. Nếu ai đó cúng dường đồ ăn không ngon, cũng không sao. Mọi xúc tình như bám chấp, kiêu mạn, sân giận, chung quy là do khi bạn có nhiều tiền, đôi khi bạn dễ nổi sân, khi ai đó lấy đi tiền của bạn, hoặc bất cứ thứ gì bạn cho là của bạn, vậy là tự nhiên bạn nổi sân.

Tóm lại trong Nguyên Thủy  Phật giáo, tuy có thực hành thiền định, song chủ yếu vẫn tập trung giữ giới của thân và khẩu, nhờ đó tâm người tu dần dần được chuyển hóa. Như vậy điểm mấu chốt vẫn là điều phục tâm.

Nếu tu theo Phật giáo Nguyên Thủy, chúng ta cần bậc Thầy như thế nào?

Vậy nếu muốn tu theo Phật giáo Nguyên Thủy, chúng ta cần bậc Thầy như thế nào? Bạn cần một bậc Thầy tốt, một vị xuất gia có giới hạnh là có thể truyền trao giới luật cho chúng ta. Dĩ nhiên là phải có sự rèn luyện, một người xuất gia để được thọ giới Tỳ kheo thường phải sau 10 năm. Như vậy nếu muốn thực hành Phật giáo Nguyên Thủy, bậc Thầy của bạn phải là một vị Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo Ni có giới hạnh và nghiêm trì giới luật. Bởi chỉnh các vị phải nghiêm trì giới luật thì mới có thể truyền trao giới luật cho chúng ta. Trong Phật giáo Nguyên Thủy không đòi hỏi chúng ta phải tin Thầy là Phật, phải quán Thầy là Phật hay Bồ Tát. Dĩ nhiên, chúng ta vẫn phải kính trọng bậc Thầy, vì Ngài là người truyền trao giới luật cho chúng ta, là bậc tu sỹ phạm hạnh. Và trong Nguyên Thủy Phật Giáo, các bậc cao tăng được kính ngưỡng vô cùng, bởi lẽ tuổi hạ càng cao nghĩa là các Ngài trì giữ giới luật càng nhiều năm. Vì giới nguyện được coi trọng nhất, do vậy bậc Thầy cũng cần được tôn kính bởi các Ngài đã miên mật trì giữ giới luật thân khẩu, khẩu, ý tinh nghiêm.

Chìa khóa quan trọng nhất của người tu tập theo Đại thừa chính là Bồ đề tâm

Nếu bạn đi theo con đường Đại Thừa, điều cốt tủy cũng vẫn không thay đổi. Chìa khóa quan trọng nhất của người tu tập theo Đại thừa chính là Bồ đề tâm. Nhắc tới thì thấy cao siêu, nhưng chúng ta cần phải hiểu nghĩa thiết thực của Bồ đề tâm là gì. Đơn giản là sư vô ngã. Tức là mọi việc bạn làm, nói, nghĩ, ăn, đi đều không vì bản thân mà vì lợi ích của hết thảy chúng hữu tình. Ví dụ, khi uống nước, tuy bạn uống nước để sống, song mục đích sống của bạn là thực hành Phật Pháp, để có thể nói và giúp đỡ chúng sinh. Mọi việc làm đều vô ngã, không hề có động cơ vì bản thân. Dù thực hành Pháp, nói chuyện, ăn uống, ngủ, đi lại, cười, tất cả đều vì chúng sinh mẹ. Vô ngã, vị tha là điểm quan trọng nhất, là cách bạn điều phục tâm.

Chỉ cần bạn khởi tâm vị kỷ, coi như bạn đã phạm giới Đại thừa

So sánh về giới của Nguyên Thủy nhằm chính vào Thân và Khẩu, không chú trọng nhiều đến giới Tâm. Còn giới Đại Thừa thì dạy chú trọng cả về giới của Thân – Khẩu và giới của Tâm. Và giới quan trọng nhất là sự vô ngã. Chỉ cần bạn khởi tâm vị kỷ, coi như bạn đã phạm giới Đại thừa. Khi trì giới Đại thừa, không có nghĩa là chúng ta coi nhẹ giới Nguyên thủy, bởi lẽ giới Nguyên thủy chủ yếu tránh gây tổn thương tới người khác: giúp ngăn chặn hoặc phòng tránh cho chúng ta khỏi làm hại chúng sinh. Đại thừa quan tâm tới lợi ích của chúng sinh. Nếu bạn không thể giữ giới làm tổn hại tới chúng sinh, chẳng hạn như bạn tuyên bố rằng tôi sát sinh là để giải phóng chúng sinh khỏi thân súc vật. Như vậy không phải là chính pháp. Bạn ăn thịt, sát sinh rồi lại thực hành phóng sinh ư? Nếu bạn không thể từ bỏ nghiệp tổn hại chúng sinh, làm sao bạn có thể đem lại lợi ích cho hữu tình? Trong Đại thừa cũng có giới luật về thân và khẩu, song điều đâu tiên và quan trọng nhất chính là tâm giới, và trong tâm giới thì vô ngã hay còn gọi là tâm Bồ Đề là pháp thực hành quan trọng nhất.

Thực hành Đại thừa, điều quan trọng nhất là tâm vô ngã

Bởi vậy nên giới Nguyên Thủy hỗ trợ rất nhiều cho việc giới tâm của Đại Thừa Phật giáo. Vì sao chúng ta sinh tâm kiêu mạn, ngã chấp? Chính vì chúng ta không có tâm vô ngã. Khi thực sự yêu quý chúng sinh hơn cả bản thân mình, chúng ta sẽ không thấy rằng mình quan trọng nữa, bạn sẽ thấy mình không bao giờ có thể tật đố với người mình yêu quý thật lòng. Ví dụ trong đời sống, nếu con cái gặt hái thành công, chúng ta không bao giờ tật đố, bởi chúng ta yêu thương và muốn chúng thành công. Cũng như vậy, nếu có tâm Bồ Đề vô ngã, chúng ta sẽ giảm được kiêu căng, tật đố, sân giận. Làm sao có thể khởi sân giận khi tâm tràn ngập tình yêu thương, tha thiết mong nguyện chúng sinh được an vui, hạnh phúc. Mọi xúc tình sân giận, bám chấp vào tài bảo, vào luân hồi đều sẽ tan biến. Khi bạn bám chấp vào tiền bạc, điều duy nhất bạn có thể nghĩ được là tiền bạc của tôi, tâm bạn không còn chỗ cho việc đem lại lợi ích chúng sinh. Khi tâm bạn vô ngã vị tha, mọi xúc tình tiêu cực đều giảm thiểu tự nhiên. Có thể bạn không chân đất khất thực, chỉ cần thực sự có tâm vô ngã vị tha, năm xúc tình tiêu cực sẽ nhậm vận tan dần. Lúc này đây, vì sao chúng ta vẫn ăn thịt? Vì sự ích kỷ vị ngã. Chúng ta không ngần ngại sát hại mạng chúng sinh, chính do tâm vị ngã ích kỷ mạnh mẽ làm nảy sinh sân giận, kiêu mạn, đố kỵ, tất cả mọi xúc tình tiêu cực. Do vậy trong thực hành Đại thừa, điều quan trọng nhất là tâm vô ngã. Thông thường đối với bậc tu sỹ Đại Thừa hàng Tỳ kheo, tuy các Ngài cũng có giới cấm giữ vàng, nhưng nếu vì lợi ích chúng sinh, nếu đã có tâm hoàn toàn vô ngã, các Ngài không còn bị giới này ràng buộc nữa, khác với trong Nguyên Thủy Phật Giáo. Điều này cũng hợp lý, bởi nếu việc sờ vào vàng cũng mang động cơ vì lợi ích chúng sinh, khi đó vàng sẽ không khiến bạn sinh tâm bám chấp, sẽ chẳng thể tác động gì tới tâm bạn, bởi vì bạn đã toàn tâm vì mục đích vô ngã lợi tha, bất cứ bạn làm việc gì cũng đều nhằm giúp đỡ chúng sinh. Chính vì vậy nên trong Đại thừa các Ngài không bao giờ ăn thịt, trong các Tự viện  Đại thừa không bao giờ được dùng thịt. Các Ngài có bếp ăn, được phép nấu nướng, không phải ra ngoài khất thực, thậm chí các Ngài còn bố thí thực ăn, song các Ngài không bao giờ dùng thịt.

Trong Đại thừa Phật Giáo nhắc rất nhiều tới Bồ Đề tâm, tới tình yêu thương và lòng từ bi, như các bạn vẫn thấy ở Nhật Bản hay Trung Quốc là những nơi Phật Giáo Đại thừa phát triển mạnh mẽ. Nguyên do trong Phật Giáo Đại thừa có nhiều điểm không hoàn toàn giống như giới luật của Phật Giáo Nguyên thủy, chẳng hạn như không đi khất thực, không cấm sờ vào vàng, không cấm nhìn sắc nữ, là do các Ngài đặc biệt chú trọng tới sự thực hành vô ngã. Khi đã thành tựu vô ngã, tất cả mọi sự bám chấp đều sẽ có thể vượt qua dễ dàng.

Hành giả tu Đại thừa cần một bậc Thầy như thế nào?

Vậy hành giả tu Đại thừa cần một bậc Thầy như thế nào? Một bậc thầy của Đại thừa cần có hai phẩm hạnh. Thứ nhất là Thông Tuệ: nghĩa là bậc Thầy cần thông tỏ kinh điển Đại thừa và hiểu biết sâu sắc về giáo lý Đại thừa. Phẩm hạnh thứ hai là trọn đời các vị không bao giờ thoái Bồ Đề tâm, luôn sống vô ngã và giữ giới Bồ tát một cách thanh tịnh. Vô ngã là phẩm hạnh quan trọng bậc nhất của bậc Thầy trong Đại thừa, bạn có thể gọi đó là tình yêu thương vô ngã. Cho dù chưa đạt được vô ngã hoàn toàn, chưa được 100%, nhưng cũng phải được 80% hoặc ít nhất phải 50% vô ngã. Tâm vô ngã hay còn gọi là Bồ Đề Tâm, và trí tuệ hiểu biết, đó là hai phẩm hạnh không thể thiếu đối với một bậc Thầy của Đại thừa. Trong truyền thống của Đại thừa, bậc Thầy có thể được kính ngưỡng là Bồ tát, hoặc bậc Thầy là hóa thân Bồ tát, Đức Quan  m là Bồ tát v..v.. tuy có nhắc như vậy nhưng không phổ biến và cũng không nhắc đến Thầy là Phật.

Kim Cương Thừa gồm vô số phương tiện thiện xảo

Khi bàn đến Kim Cương Thừa, bạn cần hiểu Kim Cương Thừa gồm vô số phương tiện thiện xảo để giúp chúng ta tu tập nhanh chóng đạt đến mục đích giác ngộ, giải thoát ngay trong một đời. Song nếu không có hiểu biết nền tảng Đại Thừa, có thể bạn sẽ thấy Kim Cương Thừa vô cùng phức tạp, khó hiểu. Như vậy để trở thành một hành giả tu tập Kim Cương Thừa, chúng ta cần phải có nền tảng căn bản của cả Tam thừa, nhất là đối với những hành giả sơ cơ như chúng ta, nhất định phải có sự trì giới thân, khẩu, ý. Bạn được phép tự chọn giới luật phù hợp với căn cơ của mình. Bên cạnh đó bạn cũng cần phải trưởng dưỡng Bồ Đề Tâm, bởi lẽ xét theo góc độ giáo lý và thực hành thì Đại  Thừa và Kim Cương Thừa vốn chung một nền tảng, không có sự khác biệt, có thể coi Kim Cương Thừa như một phần của Đại Thừa, sự khác biệt chỉ nằm trong phương pháp thực hành. Tóm lại bạn cần có Bồ Đề Tâm, nếu không thì động cơ nào khiến bạn muốn đạt thành giác ngộ trong đời này? Đúng là giác ngộ, vô ngã, từ bi rất cần thiết, nhưng trên hết, bạn có hiểu Kim Cương Thừa là gì, pháp thực hành chính trong Kim Cương Thừa là gì và cách thức nào để Kim Cương Thừa có thể chuyển hóa tâm? Phương pháp thực hành chính là thông qua quán tưởng và an trụ trong tự tính tâm không tạo tác. Đây chính là hai phương pháp thực hành chính trong Kim Cương Thừa để chuyển hóa tâm.

Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa

Theo drukpavietnam.org

You might also like More from author

Leave A Reply

Your email address will not be published.

Send this to friend